1234 soloha

vietnam visa

apply visa vietnam

CÔNG TY TNHH TECHCONVINA DỊCH VỤ CHĂM SÓC KỸ THUẬT TOÀN DIỆN CHO NHÀ MÁY

 

Công ty Xi măng Hoàng Thạch với công tác sáng kiến, cải tiến kỹ thuật

bao duong cong nghiep

Xi măng Hoàng Thạch luôn đứng trong Top các công ty có sản lượng tiêu thụ xi măng vào loại lớn. Để đảm bảo sản lượng, cũng như chất lượng các sản phẩm, Công ty cực kỳ coi trọng công tác phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật.

Không chỉ có các kỹ sư mới là chủ các công trình khoa học, mà ngay các công nhân cũng hăng hái tham gia phong trào thi đua sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm tối ưu hóa sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu , đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh.Trong năm 2010, CBCNV Công ty đã áp dụng thành công nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, giá trị làm lợi lên đến hàng tỉ đồng. Những sáng kiến được áp dụng đều có tính thực tiễn cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị áp dụng. Có thể kể đến một số sáng kiến, cải tiến điển hình như:

1. Thay thế dầu bụi trơn bằng dầu chống dính TINOVA XP:

Trong quá trình sản xuất, Nhà máy dùng dầu bôi trơn Cutting oil để bôi trơn bề mặt chầy ép, chống lại sự bám dính phối liệu vào bề mặt chầy ép. Nhưng phương pháp này có nhược điểm là chi phí cao, thoát hơi nước lý học chậm, độc hại.

KS. Nguyễn Tiến Hưng đã nghiên cứu và đề xuất phương án thay thế dầu bôi trơn bằng dầu chống dính TINOVA XP. Kết quả đã giảm chi phí từ 18.000đ/tấn, nay còn 12.746đ/tấn, thoát nước lý học triệt để, chống dính tốt và ít độc hại. Sáng kiến này đã làm lợi cho Công ty hơn 57 triệu đồng/năm.


2. Cải tiến quy trình vận hành sản xuất vải tráng màng KP:

Theo qui trình cũ khi vận hành sản xuất vải tráng màng được thực hiện theo trình tự: Vệ sinh miệng khuôn; Khởi động máy đùn và kiểm tra chất lượng màng nhựa; Tiến máy đưa vào vị trí tráng; Khởi động dây chuyền trong khi máy đùn vẫn tiếp tục di chuyển vào vị trí làm việc. Với qui trình này, lượng nhựa phế nhiều; có 5-6m vải tráng không đủ nhựa tráng phủ kín bề mặt, nghĩa là khoảng 6-10 vỏ bao sẽ bị loại tại công đoạn in cắt lồng ống... phải dừng thiết bị để xử lý.

Đứng trước tình hình đó, Kíp trưởng Xí nghiệp bao bì Lê Xuân Nam đã có sáng kiến cải tiến quy trình vận hành sản xuất vải tráng màng KP bằng cách: Vệ sinh miệng khuôn; đưa đầu đùn vào vị trí làm việc sau đó vận hành thiết bị tráng, lượng nhưạ đầu đùn đổ trực tiếp vào giữa các khe của lô ép, do vậy chỉ mất 0,5-1m vải tráng bị phế... Sáng kiến này được đưa vào áp dụng từ tháng 2/2010, giúp giảm chiều dài băng vải tráng KP phế phẩm (từ 5- 6m xuống còn 0,5-1m); Tiết kiệm nhựa tráng; tránh được nguy cơ phải dừng máy do nhựa tráng bám vào lô và băng Teplon; giảm nguy cơ tắc bao do đoạn vải bị lỗi... tiết kiệm chi phí cho Xí nghiệp, và giá trị làm lợi đạt được 69 triệu đồng/năm.


3. Cải tạo khớp nối dẫn động máy nộn lắp cho máy khoan Ingersoll-rand ECM 660-III số H6:

Trong quá trình vận hành, máy khoan số H6 đưa vào sử dụng năm 2005, tháng 7/2010 máy nén không hoạt động được do khớp nối mềm giữa động cơ và máy nén bị nứt, vỡ, tách rời giữa phần cao su bên ngoài và phần thép bên trong. Xưởng đã lập đơn hàng gia công chế tạo nhưng đến nay vẫn chưa gia công được. Do máy khoan H6 đảm nhiệm 30% sản lượng của xưởng, nên việc dừng lâu sẽ ảnh hưởng lớn đến kế hoạch khai thác của xưởng.

Nhằm khắc phục tình trạng này, KS. Vũ Đức Thái – Xưởng Khai thác đã tìm hiểu vật tư trong kho và thấy khớp nối dẫn động máy nén của máy khoan 742HC-12 đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật lắp cho máy H6. Do đó, anh đề xuất gia công hoán cải thành khớp nối máy nén để lắp trên máy khoan H6. Kết quả, máy khoan H6 đã đưa vào sử dụng từ tháng 8 năm 2010, đến nay hoạt động ổn định, an toàn, chi tiết phục hồi vẫn đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật đặt ra. Với sáng kiến này, anh Thái đã làm lợi cho Công ty 14 triệu đồng/năm.


4. Thiết kế, gia công, lắp đặt thùng chứa kíp chuyên dùng lên xe chở thuốc nổ chuyên dụng phục vụ công tác vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp:

Trong công tác chuyên chở thuốc nổ, vật liệu nổ công nghiệp, theo TCVN 4586 : 1997 thì thuốc nổ được chở riêng còn kíp nổ được chở riêng trên xe chuyên dụng. Việc vận chuyển như trên đã gây lãng phí nhiên liệu cho Công ty.

KS. Lê Văn Phương – Tổ trưởng Xưởng Khai thác đã nghiên cứu, áp dụng phụ lục K của QCVN 02 : 2008/BCT, đề xuất phương án thiết kế, gia công, lắp đặt thùng chứa kíp chuyên dùng trên xe chở thuốc nổ chuyên dụng phục vụ công tác vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp. Phương án trên đã được phòng cảnh sát PCCC&CNCH công an Hải Dương nghiệm thu, đủ điều kiện đưa vào sử dụng, các thông số kỹ thuật đảm bảo theo đúng quy định tại điểm b/K1.3 của phụ lục. Sáng kiến này đã góp phần tiết kiệm được nhiên liệu trong vận chuyển, giảm ca xe, đảm bảo an toàn, góp phần tháo gỡ khó khăn trong sản xuất. Được áp dụng từ tháng 10/2010, mỗi năm sáng kiến đem lại giá trị làm lợi khoảng 27,5 triệu đồng.


5. Giải pháp kỹ thuật cho việc khai thác từ cốt +165m xuống cốt +135m phía đông đỉnh số 1 mỏ Áng Dâu:

Việc khai thác từ cốt +165m xuống cốt +135m từ trước đến nay mỗi khi nổ mìn, một phần đất đá văng xuống tuyến đường vận chuyển gây tắc đường, phải dùng máy xúc, máy ủi đẩy xuống, làm sạch 10m ngoài mép tầng khai thác... Tình trạng này gây lãng phí nhiều ca máy xúc và máy ủi, công cạy gỡ, nguy cơ mất an toàn cao...

Sau khi nghiên cứu kỹ hiện trường, KS. Nguyễn Hữu Thanh – Xưởng Khai thác đã đề xuất phương án hợp lý, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho việc khai thác từ cốt +165m xuống cốt +135m phía đông đỉnh số 1 mỏ Áng Dâu bằng cách: Kết hợp khai thác với làm đường di chuyển thiết bị từ cốt +25m lên cốt +108m đi qua đỉnh cao số 3, mở diện khai thác phía đông bắc từ cao độ +108 lên cao độ +145 hoàn thiện sẽ tiến hành dùng thiết bị thông lại tuyến đường từ cốt +95 lên cốt +108m. Tháng 7/2010, sáng kiến được đưa vào áp dụng trên công trường. Với phương pháp này, Công ty đã chủ động, nâng cao được sản lượng khai thác, quãng đường di chuyển thiết bị gần hơn trước 650m, tiết kiệm ca máy, giảm chi phí trong quá trình sản xuất, giá trị làm lợi mỗi năm lên tới 257 triệu đồng.


6. Thiết kế, thay đổi phương pháp đào gạch lũ từ mũi phá đầu nhọn sang mũi phá đầu bằng:

Theo thiết kế và phương pháp đào gạch cũ, máy đào phá gạch lũ Brokk 330 qua quá trình sử dụng, mũi phá đầu nhọn đã bộc lộ một số nhược điểm như: năng suất không cao (mỗi viên gạch phải đập đến 5 vị trí), không phá được tận chân viên gạch sát phần vỏ thép và đôi khi còn làm ảnh hưởng đến phần vỏ thép của lũ.

Với những hạn chế như vậy, KS. Đỗ Thanh Tuấn- Xưởng Khai thác đã nghiên cứu và thiết kế, thay đổi phương pháp đào gạch lũ từ mũi phá đầu nhọn sang mũi phá đầu bằng. Sau khi thể nghiệm thành công đã đặt hàng cơ quan bên ngoài chế tạo. Chỉ một thay đổi như vậy đã cho hiệu quả rõ rệt. Mũi đầu bằng chỉ cần đập 2 đến 3 vị trí trên viên gạch, hiệu quả phá tốt hơn, giảm 1/2 thời gian đào phá gạch so với trước, góp phần đẩy nhanh tiến độ sửa chữa, tiết kiệm điện năng... Sáng kiến đã đem về cho Công ty khoảng 23 triệu đồng/lần phá gạch cả 1 lũ.


7. Biện pháp tăng năng suất vận chuyển đá vôi từ HT1 & HT2 sang HT3:

Việc vận chuyển đá vôi từ HT1 và HT2 sang HT3 trước kia được đi theo qui trình: Băng A1J04 đổ đá vôi xuống băng A2U02 ( HT2), băng A1J05 (HT1) thuận lợi, còn đổ xuống băng 123BC 100 ( HT3) không thuận lợi, nên năng suất đổ sang HT3 không đạt yêu cầu. Băng A2U12 (HT2) đổ đá vôi xuống băng 123BC100 (HT3) thuận lợi, nên năng suất đổ từ HT1 sang HT3 đạt yêu cầu.

Do đó, KS. Trần Hùng Phi – Xưởng Điện - Điện tử và công nhân bậc 3/7 Đào Đức Huân - Xưởng Nguyên liệu đã cùng nhau nghiên cứu đưa ra biện pháp tăng năng suất vận chuyển đá vôi từ HT1 & HT2 sang HT3 như sau: Khi có yêu cầu đổ đá vôi từ HT1 đến HT3 và HT2 cũng có nhu cầu chạy đá vôi, công nhân vận hành sẽ đổ đá vôi từ HT1 sang HT2 thông qua 2 băng A1J04 và băng A2U02, còn đá vôi từ HT2 sẽ đổ sang HT3 thông qua 2 băng A2U12 và băng 123BC100, khi đó sẽ đáp ứng được nhu cầu đá vôi của cả HT2 và HT3. Chỉ với chi tiết này, hiệu quả đạt được là không phải chế tạo lại cửa đổ từ HT1 sang HT3. Tăng năng suất làm việc của máy búa HT1 khi có nhu cầu đổ đá vôi sang HT3. Nhu cầu cung cấp cho HT2 và HT3 được thuận lợi, giảm chi phí cho Công ty khoảng 250 triệu đồng/năm. Tổng giá trị làm lợi của sáng kiến này lên đến 800 triệu đồng/năm.


8. Thay đổi vít tải cấp liệu 353.SC300 bằng máng khí động Flusô 353. AS 300:

Trong quá trình đầu tư dự án HT3, theo thiết kế, vít tải 353.SC300 - HT3 có nhiệm vụ vận chuyển bột liệu mịn từ silô 343.SI 100 qua két cân sang gầu nâng để cấp liệu cho lò được thiết kế giống vít tải W2A06 - HT2. Thực tế vít tải này trong quá trình hoạt động hay xảy ra sự cố dẫn đến phải dừng lò 2 để sửa chữa.

Qua khảo sát, xem xét thực tế và so sánh tính năng làm việc của vít tải và máng khí động Flusô (máng khí động ít hỏng, sửa chữa và bảo dưỡng đơn giản), KS. Nguyễn Hồng Khánh – BQL Dự án HT3 đã đề xuất phương án thay đổi vít tải cấp liệu 353.SC 300 bằng máng khí động Flusô 353. AS 300 và đã được chủ đầu tư và FLSmidth chấp thuận. Thiết bị này kết cấu đơn giản, thuận lợi trong chế tạo, lắp đặt và sửa chữa, giá cả lại giảm rất nhiều so với giá nhập ngoại (vít tải nhập có giá 45.110 EUR, máng khí động Flusô chỉ mất 3.145 EUR, giảm chi phí 41.965 EUR, tương đương 1.175.000.000 đồng). Sáng kiến này đã được chủ đầu tư và FLSmidth chấp thuận và đánh giá rất cao.


9. Thiết kế, chế tạo và lắp đặt hệ thống nhập đá vôi cỡ hạt nhỏ không qua máy đập búa CT11:

Nguyên liệu để sản xuất xi măng là đá vôi từ các công ty ngoài cung cấp, chuyên chở chiếm khoảng 70%, trong đó có khoảng 30% cỡ hạt nhỏ vẫn phải nhập qua hệ thống máy đập búa A1 hay A2 đã gây lãng phí lớn về điện năng, thời gian dừng sửa chữa, bảo dưỡng bị hạn chế…

Sau khi nghiên cứu kỹ hệ thống máy đập, anh Trần Văn Học – Trưởng ca, Xưởng Nguyên liệu và KS. Dương Duy Doanh - Xưởng Cơ khí đã thực hiện phương án thiết kế, chế tạo và lắp đặt hệ thống nhập đá vôi cỡ hạt nhỏ không qua máy đập búa CT11 bao gồm: Phễu nhập đá vôi A3, băng tải xích A3J31, băng tải vận chuyển A3J32, A3J33. Nhờ sáng kiến này, Công ty đã tiết kiệm điện năng khoảng 1.200.000 kWh/năm (do không phải chạy 2 máy đập búa CT11); chủ động trong sản xuất và trong sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị; Góp phần tăng tuổi thọ của máy đập búa… Tổng giá trị làm lợi của sáng kiến đạt 900 triệu đồng/năm.


Còn rất nhiều những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của đội ngũ kỹ sư, công nhân, những người làm công tác quản lý và trực tiếp sản xuất đã đóng góp trong quá trình lao động, góp phần quan trọng trong giảm chi phí đầu vào, tăng hiệu quả sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Những đóng góp đó đã góp phần đưa thương hiệu của Xi măng Hoàng Thạch ngày càng được người tiêu dùng tín nhiệm, lựa chọn gửi gắm niềm tin trong mỗi công trình xây dựng.


MinhHạnh

 

Sự kiện và tin tức


Máy móc thiếu bảo trì là một thủ phạm giết người
Đã có khá nhiều tai nạn chết người, thiệt hại lớn...Đọc thêm
25-02-2013
Nguyễn Thế Trinh - “người hùng lắp máy”
Chúng tôi gặp ông tổng chỉ huy lắp máy công trình thủy...Đọc thêm
22-02-2013
Duy trì năng suất tổng hợp -Bảo dưỡng công nghiệp, nền tảng của năng suất công nghiệp
Trong bối cảnh sản xuất công nghiệp thế giới hiện nay,...Đọc thêm
07-01-2013
Ảnh hưởng của các sự cố nguồn điện đến thiết bị
Thiết bị điện sử dụng trực tiếp nguồn điện lưới...Đọc thêm
28-12-2012

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay935
mod_vvisit_counterTổng lượt truy cập:1138990

Login Form